Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Chúa Kitô là sự sống lại và là sự sống - Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật V Mùa Chay – năm A (Ga 11, 1-45)

" Nơi Ngài là sự Sống, và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại.  Và sự sáng rạng trong tối tăm, và tối tăm đã không tiêu diệt được sự sáng" ( Ga 1, 4-5)

3/29/2017 9:21:13 PM

Với Chúa nhật của Niềm Vui (Lætare) vừa qua, màu hồng Phụng Vụ của Giáo hội là màu của bình minh, hé mở ánh sáng huy hoàng của Đại Lễ Phục Sinh sắp tới. Dù còn hai tuần nữa, nhưng niềm vui ấy đã ló rạng trong các bài đọc Chúa nhật hôm nay, tuy không nói về sự sống lại của Chúa Giêsu vì đó là điều tất yếu, nhưng nói về sự phục sinh của chúng ta, chính Chúa Kitô ban cho chúng ta : trỗi dậy từ trong cõi chết. 
Phục sinh Lagiarô báo trước cái chết của Chúa Giêsu 

Sự kiện Lagiarô sống lại như một bi kịch giữa Sự Sống và Sự Chết, giữa Đấng được Chúa Cha sai đến là Đức Giêsu Kitô, Chúa của Sự Sống, và thủ lãnh sự chết tiềm ẩn nơi : bệnh tật, cái chết của Lagiarô, cũng như các âm mưu chống lại Chúa Giêsu.



Ngay từ đầu, Chúa Giêsu cho thấy những thử thách về bệnh tật của bạn mình, cũng như cái được cái mất trong cuộc thương khó của Ngài : "Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa " (Ga 11, 4). Chúa Giêsu biết rõ, Lagiarô chết và việc của Ngài nên nói với các môn đệ : " Lagiarô đã chết " ( Ga 11, 14). Nhưng Ngài sẽ cho sống lại, vì "sáng danh Thiên Chúa " ( Ga 11, 4).

Đây là phép lạ thứ bẩy và cuối cùng thu hút sự chú ý nhất của dân chúng vào Chúa Giêsu trước khi Ngài bị bắt. Khi loan báo cho các môn đệ biết về ý muốn trở lại Giuđêa của Chúa Giêsu để gặp Lagiarô đã chết, các ông hết sức ngạc nhiên và lo lắng nên nói: "Thưa Thầy, mới đây người Do thái tìm ném đá Thầy, mà Thầy lại trở về đó ư ? "(Ga 11, 8). Quả thật, các nhà lãnh đạo Do thái đã để mất Chúa Giêsu vào dịp này : " Bởi vậy từ ngày đó, họ quyết định giết Người " (Ga 11, 53 ). 
Nhưng phản ứng của Chúa Giêsu là : " Lagiarô đã chết, chúng ta hãy đi với anh ta" (Ga 11, 15), Ngài sẽ đánh bại sự chết, cứu con người khỏi chết và ban cho sự sống.




Niềm hy vọng của chúng ta

Trọng tâm của Tin Mừng hôm nay là câu : " Ta là sự sống và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ "(Ga 11, 25-26). Nếu chúng ta đặt niềm tin vào Chúa Giêsu, Chúa Cha " Đấng đặt Thánh Thần của Ngài trong chúng ta, và chúng ta đang sống " sự sống của Người (Ez 1, 13) thì chúng ta sẽ được Thiên Chúa cho sống lại ngày sau hết.

Chúa cho Lagiarô sống lại như Ngài đã làm cho con gái ông Giairô, con trai của bà góa thành Naim trở lại sự sống tự nhiên lần thứ hai trong một thời gian ngắn. Trái lại, "Ðức Kitô sống lại từ cõi chết, không còn chết nữa, sự chết không còn bá chủ được Ngài nữa" (Rm 6, 9) vì Ngài sống sự sống của Thánh Thần Thiên Chúa. Nhưng "nếu Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần Người ngự trong anh em" (Rm 8,11). Sao chúng ta không thể hy vọng được.

Phần lớn chúng ta mong đợi trở lại cuộc sống tự nhiên. Chắc chắn chúng ta sẽ chết, bởi vì " thân xác chúng ta đã chết vì tội lỗi " (Rm 8, 10) nhưng " nếu Đức Kitô ở trong chúng ta" và chúng ta ở trong Ngài với đức tin sống động, thì linh hồn chúng ta sẽ sống bằng sự sống của Thiên Chúa và được tham dự vào sự bất tử của Ngài. Hơn nữa : chúng ta tin vào phép rửa " Vậy nhờ thanh tẩy, ta đã được mai táng làm một với Ngài trong sự chết, ngõ hầu như Ðức Kitô, nhờ bởi vinh quang của Cha, mà được sống lại từ cõi chết, thì cả ta nữa, ta cũng bước đi trong đời sống mới ". 
(Rm 6, 4).




Thật là đại tin mừng : " Nơi Ngài là sự Sống, và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại.  Và sự sáng rạng trong tối tăm, và tối tăm đã không tiêu diệt được sự sáng" ( Ga 1, 4-5). Nếu như tác giả Tin Mừng đã hai lần thuật lại điều Martha và Maria than với Chúa về đau khổ của hai bà : "Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết",  há không phải muốn nhấn mạnh rằng, từ nay, tiếng khóc không còn nữa đó sao? 
Chúa Giêsu thổn thức và xúc động. Người hỏi : " Đã an táng Lagiarô ở đâu? " Nước mắt Chúa như mưa, Lagiarô như hạt giống, và ngôi mộ như một thửa đất. Chúa Giêsu hô lớn tiếng, tiếng Ngài làm cho sự chết run sợ, Lagiarô đã bung lên như hạt giống, anh bước ra khỏi mồ và tôn thờ Đấng đã cho anh sống lại.
Mãnh lực của sự chết đã thống trị Lagiarô bốn ngày. Chúa Giêsu đã đánh bại sự chết ngày thứ ba, đúng như lời Ngài đã hứa rằng, Ngài sẽ sống lại ngày thứ ba sau khi chết (x. Mt 16, 21).


" Hãy đẩy tảng đá ra " (11, 39). Cái gì vậy, Đấng đã làm cho kẻ chết sống lại, nay không thể mở cửa mồ hay phán một lời để di chuyển tảng đá đóng cửa mồ hay sao ? Chắc chắn, Ngài có thế khiến tảng đá lăn ra khỏi mồ bằng lời Ngài phán, khi Ngài bị treo trên thập giá, Ngài đã từng chẻ đôi tảng đá và mở tung các cửa mồ (Mt 27,51-52 ).

" Hãy cởi ra cho anh ấy đi "(11, 44).  Chúa bảo người chung quanh cởi cho anh để họ nhận ra chính anh là người họ đã bọc vào trong khăn an táng, thân xác đã phân hủy, nay sống lại nhờ quyền năng Chúa. 

 

Hình ảnh báo trước và là lời hứa phục sinh cho các dự tòng

Là người thật, Ðức Kitô đã khóc Lagiarô, bạn hữu Người; là Thiên Chúa hằng sống, Người đã truyền cho Lagiarô sống lại ra khỏi mồ. (Kinh Tiền Tụng ). Hôm nay Chúa cũng tuyên bố : " Ta là sự sống lại và là sự sống" và hỏi "Con có tin điều đó không?" Cùng với Martha chị của Lagiarô các anh chị em dự tòng thưa: "Thưa Thầy, vâng, con đã tin Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian” (Ga 11,). Chúa phục sinh Lagiarô là hình ảnh báo trước sự phục sinh cho các dự tòng là những người mong đợi trong Đêm Vọng Phục Sinh. Khi dìm mình trong nước nước Rửa tội, người dự tòng được giải thoát khỏi sự chết và sống lại với Chúa Kitô. Sự sống lại này, như lời tiên tri Êgiêkiêl : "Ta sẽ mở cửa mồ cho các người, Ta sẽ kéo các người ra khỏi mồ " (Ez 37, 12-14). "Ta đặt thần khí ta vào tâm hồn anh em " (Ez 37, 6) : nhờ Phép Rửa tội, Thần Khí Đức Kitô ngự vào trong chúng ta (Rm 8, 8-11), Thần Khí kết hợp người chịu phép rửa trong tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con ; khi đón nhận, chúng ta được tham dự vào tình yêu này của Ba Ngôi Thiên Chúa. Amen.


Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
------------------------ 
Nguồn: http://conggiao.info/chua-kito-la-su-song-lai-va-la-su-song-d-40944

-----------------------



CẦU NGUYỆN:

“Lạy Chúa Giê-su,
          xưa Chúa có người bạn thân là La-da-rô,
          Chúa cũng coi các môn đệ là bạn hữu.
          Tạ ơn Chúa đã cho con những người bạn
          để nâng đỡ con trên đường đời.
          Dù chúng con có nhiều điểm khác biệt,
          nhưng xin hiệp nhất chúng con trong tình yêu.
          Xin cho chúng con biết
          yêu thương nhau thật tình,
          chia sẻ cho nhau mọi nỗi buồn vui,
          nâng nhau dậy khi vấp ngã,
          phấn khởi trước những thành công,
          khích lệ trước một cố gắng nhỏ,
          và nhất là thẳng thắn góp ý cho nhau,
          để cùng nhau tiến bộ.
          Lạy Chúa, xin mở rộng vòng tay con,
          để có thể đón nhận những người bạn mới.
          Xin cho con đừng trở nên nghèo nàn
          vì chỉ muốn làm bạn với ai giống con.
          Xin dạy con biết thế nào là gặp gỡ.
          Gặp gỡ không phải chỉ là quảng đại cho đi,
          mà còn là khiêm nhường nhận lãnh.
          Gặp gỡ không chỉ là tâm sự về mình,
          mà còn là lắng nghe người khác.
          Gặp gỡ không phải chỉ là phân phát sự giàu có của mình,
          mà còn là nhìn nhận và đón nhận
          sự phong phú của tha nhân.
          Lạy Chúa Giê-su,
          xin cho chúng con trở nên bạn của Ngài,
          nhờ đó, chúng con mãi mãi
          là bạn thân của nhau.  A-men.”

(Trích RABBOUNI, lời nguyện 115)

Chúa Nhật V Mùa Chay A 02.4.2017

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

CHIA SẺ TIN MỪNG: Thầy Là Ánh Sáng Thế Gian - CN IV MÙA CHAY A 26.3.2017



X Lời Chúa (Ga 9,1-41)
1 Khi ấy Ðức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 2 Các môn đệ hỏi Người: "Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này mới sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?" 3 Ðức Giêsu trả lời: "Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. 4 Chúng ta phải làm những việc của Ðấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. 5 Bao lâu, Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian."


6 Nói xong, Ðức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta: "Anh hãy đến hồ Xilôác mà rửa" (Xilôác có nghĩa là: người được sai phái).  Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được. 8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói: "Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?" 9 Có người nói: "Chính hắn đó!"  Kẻ khác lại rằng: "Không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!"  Còn anh ta thì quả quyết: "Chính tôi đây!" 10 Người ta liền hỏi anh: "Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?" 11 Anh ta trả lời: "Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo: "Anh hãy đến hồ Xilôác mà rửa.  Tôi đã đi, và sau khi rửa tôi nhìn thấy được." 12 Họ lại hỏi anh: "Ông ấy ở đâu?" Anh ta đáp: "Tôi không biết." 13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pharisêu. 14 Nhưng ngày Ðức Giêsu trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sabát. 15 Vậy, các người Pharisêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được.  Anh trả lời: "Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy."
16 Trong nhóm Pharisêu, người thì nói: "Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát"; kẻ thì bảo: "Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?"  Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17 Họ lại hỏi người mù: "Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?"  Anh đáp: "Người là một vị ngôn sứ!" 18 Người Do thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi: "Anh này có phải là con ông bà không?"  Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được?" 20 Cha mẹ anh đáp: "Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. 21 Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay.  Xin các ông cứ hỏi nó; nó đã khôn lớn rồi, tự nó nó nói về mình được." 22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do thái.  Thật vậy, người Do thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô. 23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói: "Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó."


24 Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo: "Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa.  Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi." 25 Anh ta đáp: "Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết.  Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!" 26 Họ mới nói với anh: "Ông ấy đã làm gì cho anh? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào?" 27 Anh trả lời: "Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe.  Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa?  Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?" 28 Họ liền mắng nhiếc anh: "Có mày mới là môn đệ ông ấy; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Môsê. 29 Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Môsê; nhưng chúng ta không biết ông ấy bởi đâu mà đến." 30 Anh đáp: "Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt cho tôi! 31 Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. 32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. 33 Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì." 34 Họ đối lại: "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?"  Rồi họ trục xuất anh.
35 Ðức Giêsu nghe nói họ đã trục xuất anh, và khi gặp lại anh, Người hỏi: "Anh có tin vào Con Người không?" 36 Anh đáp: "Thưa Ngài, Ðấng ấy là ai để tôi tin?" 37 Ðức Giêsu trả lời: "Anh đã thấy Người.  Chính Người đang nói với anh." 38 Anh nói: "Thưa Ngài, tôi tin."  Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. 39 Ðức Giêsu nói: "Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại trở nên đui mù!" 40 Những người Pharisêu đang ở đó với Ðức Giêsu nghe vậy, liền lên tiếng: "Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?" 41 Ðức Giêsu bảo họ: "Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội.  Nhưng giờ đây các ông nói rằng: "Chúng tôi thấy", nên tội các ông vẫn còn!"


X Suy Niệm
Ðức Giêsu đã chữa một người mù từ lúc mới sinh,
một người lớn lên trong bóng đêm dầy đặc.
Ngài cho anh được thấy ánh mặt trời lần đầu tiên,
thấy khuôn mặt của những người thân thuộc.
Nhưng quan trọng hơn, anh đã thấy và tin vào Ðức Giêsu,
Ðấng là Ánh Sáng của thế giới.
Sau khi được sáng măt,
anh đã bước vào một cuộc hành trình đức tin đầy cam go.
Lúc đầu, Ðức Giêsu chỉ là một người mà anh không rõ.
Sau đó, anh dám khẳng định trước mặt mọi người
Ngài là một ngôn sứ, là người bởi Thiên Chúa mà đến.
Cuối cùng, anh đã sấp mình để bày tỏ lòng tin vào Ngài.
Ðức tin của anh lớn lên qua những hiểm nguy và đe dọa.
Ngược với thái độ hồn nhiên và bình an của anh
là thái độ bối rối bất an của giới lãnh đạo.
Họ cứ hỏi đi hỏi lại về cách thức anh được chữa lành.
Cha mẹ của anh cũng được điều tra cẩn thận.
Trước những lập luận vững vàng của anh,
họ chỉ biết chê anh là dốt nát và tội lỗi.
Dựa vào một quan niệm hẹp hòi về việc giữ ngày sa bát,
họ khẳng định Ðức Giêsu đã phạm tội khi chữa bệnh,
tuy họ vẫn không hiểu tại sao một người tội lỗi
lại có thể mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh.
Giới lãnh đạo Do thái giáo không muốn coi Ðức Giêsu
là người của Thiên Chúa,
vì điều đó đòi họ phải thay đổi lối nghĩ và lối sống đạo,
thay đổi bộ mặt tôn giáo của cha ông,
nhất là đòi họ phải tin và theo Ngài.
Họ tự hào mình hiểu biết và đạo đức.
Chính niềm tự hào này đã khiến họ khép lại,
không có can đảm chấp nhận mình sai lầm,
và cố chấp ở lại trong bóng tối.
Mù không phải là một tội.
Cố ý không muốn thấy mới là tội đáng kể.
Chúng ta ai cũng sợ bị mù,
nhưng lắm khi ta lại tự làm cho mình nên mù lòa,
khi không chấp nhận thực tế về bản thân,
khi né tránh sự thật và không muốn nghe ai.
Như những người mù xem voi,
mỗi người chúng ta chỉ thấy một phần của thực tại,
một phần nhỏ của chân lý.
Cần khiêm tốn để nhận mình mù,
mù về chính mình, mù về lãnh vực mình thông thạo,
vì điều mình biết chỉ là phần nổi của tảng băng,
vì con voi không giống như cái cột nhà hay cái quạt.
Thay vì cãi nhau do có cái nhìn khác nhau,
chúng ta có thể bổ túc cho nhau,
để dần dần đến gần chân lý trọn vẹn.


X Gợi Ý Chia Sẻ
Chúng ta đều ít nhiều mù lòa về chính mình.  Theo ý bạn, làm sao chúng ta có thể ra khỏi sự mù lòa đó?
Tự ái, tự hào, tự cao, tự mãn... theo ý bạn, đây có phải là những thái độ khiến chúng ta khó đón nhận những góp ý nghiêm túc của người khác không?


X Cầu Nguyện
Như thánh Phaolô trên đường về Ðamát,
xin cho con trở nên mù lòa
vì ánh sáng chói chang của Chúa,
để nhờ biết mình mù lòa mà con được sáng mắt.
Xin cho con đừng sợ ánh sáng của Chúa,
ánh sáng phá tan bóng tối trong con
và đòi buộc con phải hoán cải.
Xin cho con đừng cố chấp ở lại trong bóng tối
chỉ vì chút tự ái cỏn con.
Xin cho con khiêm tốn
để đón nhận những tia sáng nhỏ
mà Chúa vẫn gửi đến cho con mỗi ngày.
Cuối cùng, xin cho con hết lòng tìm kiếm Chân lý
để Chân lý cho con được tự do.
-------------------------- 
Nguồn: Trích Tập Manna A của Lm. An Tôn Nguyễn Cao Siêu,SJ
Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017

CHIA SẺ TIN MỪNG: Cho Tôi Xin Chút Nước Uống - Chúa Nhật 3 Mùa Chay A 19.3.2017


 Lời Chúa (Ga 4,5-42)
5 Khi ấy Ðức Giêsu đến một thành xứ Samaria, tên là Xykha, gần thửa đất ông Giacóp đã cho con là ông Giuse. 6 Ở đấy, có giếng của ông Giacóp.  Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng.  Lúc đó vào mười hai giờ trưa.
7 Có một người phụ nữ Samari đến lấy nước.  Ðức Giêsu nói với người ấy: "Chị cho tôi xin chút nước uống!" 8 Quả thế, các môn đệ của Người vào thành mua thức ăn. 9 Người phụ nữ Samari liền nói: "Ông là người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông uống nước sao?" 10 Ðức Giêsu trả lời: "Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người nói với chị: Cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị nước hằng sống? 11 Chị ấy nói: "Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu.  Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? 12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, là người đã cho chúng tôi giếng này?  Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy." 13 Ðức Giêsu trả lời: "Ai uống nước này, sẽ lại khát. 14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa.  Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời."


15 Người phụ nữ nói với Ðức Giêsu: "Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước." 16 Người bảo chị ấy: "Chị hãy gọi chồng chị, rồi hãy trở lại đây." 17 Người phụ nữ đáp: "Tôi không có chồng."  Ðức Giêsu bảo: "Chị nói: tôi không có chồng là phải, 18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị.  Chị đã nói đúng." 19 Người phụ nữ nói với Người: "Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ... 20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giêrusalem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa." 21 Ðức Giêsu phán: "Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các ngươi sẽ thờ phượng Chúa Cha không phải trên núi này hay tại Giêrusalem. 22 Các ngươi thờ Ðấng các ngươi không biết; còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do thái. 23 Nhưng giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 24 Thiên Chúa là thần khí, và những ai thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật." 25 Người phụ nữ thưa: "Tôi biết Ðấng Mêsia, gọi là Ðức Kitô, sẽ đến.  Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự." 26 Ðức Giêsu nói: "Ðấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây." 27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về.  Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ.  Tuy thế, không ai dám hỏi: "Thầy cần gì vậy?" hoặc "Thầy nói gì với chị ấy?"


28 Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: 29 "Ðến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm.  Ông ấy không phải là Ðấng Kitô sao?" 30 Họ ra khỏi thành và đến gặp Người. 31 Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng: "Rabbi, xin mời Thầy dùng bữa." 32 Người nói với các ông: "Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết." 33 Các môn đệ mới hỏi nhau: "Ðã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng?" 34 Ðức Giêsu nói với các ông: "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người. 35 Nào anh em chẳng nói: Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt?  Nhưng này, Thầy bảo anh em: Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái! 36 Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. 37 Thật vậy, câu tục ngữ "kẻ này gieo, người kia gặt" quả là đúng! 38 Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không vất vả làm ra.  Người khác đã làm lụng vất vả; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ."
39 Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Ðức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng: ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. 40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Samari xin Người ở lại với họ, và Người ở lại đó hai ngày. 41 Số người tin vì lời Ðức Giêsu nói còn đông hơn nữa. 42 Họ bảo người phụ nữ: "Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin.  Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng người thật là Ðấng cứu độ trần gian."


Suy Niệm
Sau nửa ngày hành trình từ Giuđê về Galilê,
Ðức Giêsu nghỉ mệt bên một giếng nước ở vùng Samari.
Ngài vừa đói vừa khát, giữa cái nắng ban trưa.
Các môn đệ vào thành mua thức ăn.
Còn lại một mình Ðức Giêsu ngồi bên bờ giếng.
Chính nơi đây đã diễn ra cuộc gặp gỡ
giữa Ngài và người phụ nữ Samari vốn bị coi là ô nhơ.
Ðức Giêsu bắt đầu gieo hạt
để chuẩn bị cho mùa gặt mai sau của các môn đệ.
"Cho tôi chút nước uống."
Ðức Giêsu mở đầu cuộc đối thoại bằng một lời nài xin.
Ngài chẳng sợ thú nhận sự thiếu thốn của mình.
Xin nước uống là làm một cuộc cách mạng,
là bắc một nhịp cầu qua vực sâu
ngăn cách hai dân tộc Samari và Do thái
vốn dĩ đã thù ghét và xa lánh nhau từ bốn thế kỷ.
Chẳng ai hiểu nổi một bậc thầy như Ðức Giêsu
lại nói chuyện và xin nước một phụ nữ Samari.
Ðức Giêsu đã cúi mình phá bỏ những hàng rào
để xây dựng một cuộc đối thoại đích thực và bình đẳng.
"Cho tôi chút nước uống."
Ngài là người xin nước trước khi là người cho...
Chúng ta cũng có nhiều điều phải xin
nơi chính những người cần chúng ta giúp đỡ.


Ðức Giêsu cho thấy Ngài có một thứ nước lạ lùng,
uống vào không còn khát nữa.
Người phụ nữ vội vã xin Ngài thứ nước kỳ diệu đó.
Chị đâu ngờ chính mình đã bắt đầu được nếm rồi.
Nước đó chính là Lời của Ðức Giêsu,
Lời vén mở dần dần con người thâm sâu của Ngài.
Ðức Giêsu cho thấy Ngài biết rõ gia cảnh của chị.
Cái biết của Ngài không nhằm soi mói, nhưng để cảm thông.
Cái biết của Ngài về những điều riêng tư thầm kín
đã khiến chị coi Ngài là một ngôn sứ đáng tin.
Từ đó, chính chị gợi lên vấn đề tôn giáo,
một vấn đề khiến chị rất bận tâm;
Chính chị nói lên niềm mong đợi của mình về Ðấng Mêsia,
Ðấng sẽ đến dạy dỗ mọi sự (Ga 4,25);
rồi cũng chính chị đã bỏ vò nước lại
mà hân hoan chạy đi giới thiệu Ðức Giêsu cho đồng bào.
Chị đã tìm thấy thứ nước tuyệt diệu nơi Ðức Giêsu.


Ngài từ từ tỏ mình cho chị:
"Ðấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây."
Không thấy nói đến chuyện Ðức Giêsu ăn hay uống.
"Lương thực của Thầy là thi hành ý Ðấng đã sai Thầy."
Ðức Giêsu chỉ đòi một điều, đó là nuôi dưỡng nhân loại.
Ngài chỉ khát một điều, đó là ban nguồn nước sự sống.
Chúng ta có dám chia sẻ cơn đói khát của Ngài không?


Gợi Ý Chia Sẻ
Khi chiêm ngắm Ðức Giêsu trong đoạn Tin Mừng trên đây, bạn thấy đâu là những thái độ cần thiết mà người rao giảng Lời Chúa hôm nay cần có?
Con người đói khát cơm gạo và nước uống tinh khiết.  Theo ý bạn, giới trẻ hôm nay đói khát điều gì hơn cả (tình bạn, tình yêu, lòng tin, niềm hy vọng, ý nghĩa cho cuộc sống, sự trung thực...)?  Kitô giáo có thể giúp gì cho giới trẻ?


Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con biết con,
xin cho con biết Chúa.
Xin cho con chỉ khao khát một mình Chúa,
quên đi chính bản thân,
yêu mến Chúa và làm mọi sự vì Chúa.
Xin cho con biết tự hạ,
biết tán dương Chúa và chỉ nghĩ đến Chúa.
Ước gì con biết hãm mình và sống trong Chúa.
Ước gì con biết nhận từ Chúa
tất cả những gì xảy đến cho con
và biết chọn theo chân Chúa luôn.
Xin đừng để điều gì quyến rũ con, ngoài Chúa.
Xin Chúa hãy nhìn con, để con yêu mến Chúa.
Xin Chúa hãy gọi con, để con được thấy Chúa.
Và để con hưởng nhan Chúa đời đời. Amen.

Thánh Âu-tinh
Nguồn: Trích từ Tập Manna A của Lm. An Tôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
Sưu tầm: P. Mai Tự Cường